Tổng kết thi hành chính sách phát triển nhà ở xã hội
Những năm qua, việc chăm lo giải quyết nhà ở cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và xác định là một vấn đề an sinh xã hội, một nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ và đã được thể hiện trong các văn kiện, Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc
Thực hiện các chủ trương của Đảng về chính sách nhà ở xã hội, nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến phát triển nhà ở xã hội đã được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ ngành, địa phương ban hành. Đến nay, hệ thống pháp luật về nhà ở xã hội về cơ bản đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhiều sự đổi mới có tính đột phá để thúc đẩy việc phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là các cơ chế chính sách ưu đãi hỗ trợ cho việc phát triển nhà ở xã hội để giải quyết nhu cầu bức thiết về nhà ở của các đối tượng chính sách xã hội, bao gồm đối tượng là người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị.
Tuy nhiên, sau gần 13 năm triển khai thực hiện chính sách nhà ở xã hội [1], đặc biệt là các chính sách nhà ở xã hội đã được ban hành tại Luật Nhà ở năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành còn nhiều bất cập, vướng mắc ngay trong quy định và trong triển khai thực hiện.
Nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhà ở, trong đó có chính sách về nhà ở xã hội, nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội đáp ứng nhu cầu nhà ở của đại bộ phận người dân có thu nhập còn thấp, trên cơ sở kết quả tổng kết thi hành Luật Nhà ở 2014 của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương, Bộ Xây dựng tổng hợp và báo cáo Chính phủ về tình hình thi hành chính sách nhà ở xã hội trong Luật Nhà ở năm 2014 như sau:
PHẦN 1
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH
I. Về việc ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Luật Nhà ở 2014
1. Đối với các cơ quan cấp Trung ương:
– Ngay sau khi Luật Nhà ở năm 2014 được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định để hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở có liên quan đến nhà ở xã hội, bao gồm: (1) Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội; (2) Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
– Các Nghị quyết của Chính phủ về hoàn thiện cơ chế chính sách và bố trí nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội: Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và giải quyết nợ xấu; Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/4/2020; Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 và Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 08/6/2021.
– Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều Quyết định, Chỉ thị để triển khai thực hiện các chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội như: Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 về phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg; Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg; Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg; Quyết định số 714/2018/QĐ-TTg; Quyết định số 319/2020/QĐ-TTg, Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, Quyết định số 655/QĐ-TTg ngày 12/5/2017 phê duyệt Đề án “Đầu tư xây dựng các thiết chế của công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất” (sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 1729/QĐ-TTg ngày 04/11/2020), Chỉ thị số 03/CT-TT ngày 25/01/2017; Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 01/4/2019 và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 14/6/2021.
– Bộ Xây dựng theo thẩm quyền cũng đã ban hành hàng loạt các Thông tư để triển khai các quy định về chính sách nhà ở xã hội được giao trong Luật Nhà ở năm 2014 cũng như các Nghị định của Chính phủ cụ thể là: Thông tư số 19/2016/TT-BXD (nhà ở xã hội thuộc sở hữu nhà nước), Thông tư số 20/2016/TT-BXD, Thông tư số 09/2021/TT-BXD. Ngoài ra một số Bộ, ngành khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao trong Luật Nhà ở 2014, Nghị định số 99/2015/NĐ-CP cũng đã ban hành các văn bản theo thẩm quyền như: Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, Thông tư số 139/2016/TT-BTC ngày 12/9/2016 hướng dẫn miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính cho chủ đầu tư khi đầu tư xây dựng nhà ở xã hội và phương pháp xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người mua, thuê mua được phép bán lại nhà ở xã hội; Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 25/2015/TT-NHNN ngày 09/12/2015 hướng dẫn cho vay vốn ưu đãi thực hiện chính sách nhà ở xã hội, Thông tư số 20/2021/TT-NHNN ngày 30/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 25/2015/TT-NHNN ngày 09/12/2015 hướng dẫn cho vay vốn ưu đãi thực hiện chính sách nhà ở xã hội, v.v..
Có thể nói rằng với quy định của Luật Nhà ở và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở nêu trên đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, cụ thể để điều chỉnh hầu hết các hoạt động của các tổ chức, cá nhân cũng như các chủ thể có liên quan trong lĩnh vực phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
2. Đối với địa phương
Thực hiện quy định của Luật Nhà ở 2104 và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhiều Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã chủ động rà soát các điều, khoản được giao về chính sách nhà ở xã hội trong Luật Nhà ở 2014 vàcác Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, các Thông tư hướng dẫn để ban hành các văn bản theo thẩm quyền. Tuy nhiên, tại một số địa phương, việc ban hành các văn bản còn chưa kịp thời, còn chậm so với yêu cầu; có một số nội dung vẫn chưa được quy định, quy định chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, có những quy định chưa đúng thẩm quyền, chưa phù hợp với pháp luật nhà ở xã hội hiện hành.
Nhìn chung, việc ban hành theo thẩm quyền các nội dung trong lĩnh vực nhà ở xã hội của các địa phương đã làm cho các quy định của Luật Nhà ở 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đi vào cuộc sống thực tiễn, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực nhà ở xã hội của các chủ thể, góp phần đưa công tác quản lý nhà nước về nhà ở xã hội đi vào nề nếp làm giảm đáng kể các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp liên quan đến nhà ở xã hội.
II. Nội dung chính về chính sách nhà ở xã hội trong Luật Nhà ở 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 được Quốc hội Khóa 13, Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25/11/2014, có 13 Chương với 183 Điều, trong đó dành 01 chương (Chương 4) để quy định riêng về chính sách nhà ở xã hội.
Có thể nói rằng đây là Chương mới quan trọng của Luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực nhà ở xã hội. Luật Nhà ở 2014, Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP đã quy định nhiều nội dung liên quan đến vấn đề nhà ở xã hội như: (1) quy định cụ thể 10 nhóm đối tượng có khó khăn về nhà ở được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở như: người có công với cách mạng, công nhân lao động, người thu nhập thấp tại đô thị…(2) quy định cụ thể các cơ chế ưu đãi cho các chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội như miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, miễn, giảm thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi vay vốn, hỗ trợ kinh phí xây dựng hạ tầng; (3) quy định về quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội đối với các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị, khu công nghiệp; (4) loại nhà, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội; (5) thủ tục lựa chọn chủ đầu tư; (6) huy động vốn; (7) mua nhà ở thương mại làm nhà ở xã hội…









Leave a Reply
Want to join the discussion?Feel free to contribute!